THƯƠNG TRƯỜNG LÀ CHIẾN TRẬN

Việt Nam tồn tại nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp đáp ứng nhu cầu thời chiến kéo dài cho đến trước Đại hội VI của Đảng CSVN năm 1986. Sau khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu tan rã, Việt Nam mất viện trợ, Mỹ và các nước phương Tây cấm vận toàn diện nên đã bắt buộc lãnh đạo Việt Nam phải ĐỔI MỚI - TRƯỚC HẾT LÀ ĐỔI MỚI TƯ DUY KINH TẾ, từng bước thay đổi mô hình quản lý nhà nước; thừa nhận thuộc tính ưu việt của kinh tế thị trường; chấp nhận sự tồn tại cùng lúc nhiều hình thức sở hữu trong nền kinh tế của đất nước; tuyên bố MỞ CỦA muốn làm bạn, làm ăn với mọi quốc gia trên thế giới dù khác nhau về thể chế chính trị. Đó là những vấn đề cấm kỵ thời trước Đại hội VI.

THƯƠNG TRƯỜNG LÀ CHIẾN TRẬN

                                                Đào Phan Long


          Việt Nam tồn tại nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp đáp ứng nhu cầu thời chiến kéo dài cho đến trước Đại hội VI của Đảng CSVN năm 1986. Sau khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu tan rã, Việt Nam mất viện trợ, Mỹ và các nước phương Tây cấm vận toàn diện nên đã bắt buộc lãnh đạo Việt Nam phải ĐỔI MỚI - TRƯỚC HẾT LÀ ĐỔI MỚI TƯ DUY KINH TẾ, từng bước thay đổi mô hình quản lý nhà nước; thừa nhận thuộc tính ưu việt của kinh tế thị trường; chấp nhận sự tồn tại cùng lúc nhiều hình thức sở hữu trong nền kinh tế của đất nước; tuyên bố MỞ CỦA muốn làm bạn, làm ăn với mọi quốc gia trên thế giới dù khác nhau về thể chế chính trị. Đó là những vấn đề cấm kỵ thời trước Đại hội VI.

          Tôi nhớ sau khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, từng bước nối lại quan hệ giao thương với các nước phương Tây, Trung Quốc và Mỹ, Việt Nam đã đón tiếp Thủ tướng Thái Lan tại Hà Nội. Đến thăm Việt Nam thời đó ông Thủ tướng Thái đã phát biểu rất cởi mở mong muốn hai nước xây dựng mối bang giao làm ăn để hai bên cùng có lợi nhưng theo nguyên tắc kinh tế thị trường và có nói “NHƯNG THƯƠNG TRƯỜNG SẼ LÀ CHIẾN TRƯỜNG”. Thời đó tôi còn trẻ, đang giúp việc cho Bộ trưởng nghe ông ấy nói mình thấy hơi “gai và ngạo mạn”.  Nhưng rồi dần dà khi đi làm kinh tế tôi mới thấy ông ấy nói như vậy là thành thực và đúng, vì THỊ TRƯỜNG là TÀI NGUYÊN, LÀ VỐN đối với một doanh nghiệp và đối với cả quốc gia nên rất cần được nhà nước tìm mọi cách để xây dựng và bảo vệ. Không có thị trường thì mọi doanh nghiệp, ngành kinh tế đều không thể phát triển được, dẫn đến tụt hậu và thất nghiệp ngày càng tăng. Nhưng rất đáng trách cho đến nay sau trên dưới 25 năm kể từ ngày đó mà nhiều người Việt Nam ta vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa hết sức quan trọng của THỊ TRƯỜNG LÀ CHIẾN TRẬN để biết cách xây dựng và bảo vệ, không những thế còn nguỵ biện bằng những luận cứ mơ hồ. Gần đây THƯƠNG TRƯỜNG LÀ CHIẾN TRẬN càng hiện rõ khi Tổng thống Mỹ đang quyết liệt bằng mọi cách để bảo vệ thị trường nội địa, tạo công ăn việc làm cho người dân Mỹ sẽ là bài học cho nhiều nhà quản lý kinh tế vĩ mô ở nước ta.

          Tôi nhớ cách đây sáu bảy năm tôi cùng một số anh em làm cơ khí đến thăm bác cựu Tổng bí thư là người thuộc thế hệ cha chú luôn quan tâm đến phát triển cơ khí đất nước, bác ấy hỏi về tình hình làm ăn công nghiệp nói chung và cơ khí nói riêng hiện như thế nào? Mỗi người đều báo cáo là khó khăn vì thiếu việc làm do nhiều nguyên nhân xuất phát từ cơ chế, chính sách…, riêng tôi mạnh dạn thưa: Sau 15 năm Việt Nam vẫn đang tiếp tục tích tụ tư bản bằng các nguồn chính là “bán tài nguyên thô, bán sức lao động giá rẻ, bán thị trường và đang quá trình bán đất” chưa có đủ nội lực để sản xuất hàng hoá có chất lượng cạnh tranh trên sân nhà và từng bước vươn ra khu vực. Đây là kết quả yếu kém của cả các cấp quản lý vĩ mô và của cả các doanh nghiệp quốc doanh nắm giữ vốn lớn của nhà nước…

          Tôi buồn vì cho tới hôm nay Việt Nam vẫn còn quá nhiều điều bất cập và hậu quả không tốt, thậm chí nguy hiểm ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ như truyền thông ngày ngày đang nêu công khai trước bàn dân thiên hạ.

          Sản phẩm cơ khí có mặt ở mọi ngành nghề và đáp ứng nhu cầu đời sống ngày càng văn minh của con người. Dù có trí tuệ nhân tạo, công nghiệp 4.0 vẫn phải có cơ khí phát triển trình độ cao để thực hiện. Từ Robot, trang thiết bị thông minh cho đến ô tô, máy bay, tầu ngầm… không người lái nếu không có cơ khí phát triển vẫn không ra được. Đây là đại vấn đề mà hiện nay nhiều người vẫn lơ mơ, nhưng trong khuôn khổ bài viết này tôi không bàn đến, chỉ xin nêu suy nghĩ về THƯƠNG TRƯỜNG LÀ CHIẾN TRẬN. Để cụ thể và khách quan tôi chỉ xin nêu ra 01 loại sản phẩm cơ khí chế tạo rất gắn bó với đời sống dân ta là chiếc XE MÁY đã CÓ THỊ TRƯỜNG VÀ MẤT THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA như thế nào nhằm làm rõ hơn ý nghĩa của thị trường là vốn, là tài nguyên qua bài viết của tác giả Bach Dương đăng trên Báo điện tử VnExpes như dưới đây. 

   

Những đế chế 'tỷ đô'

trên thị trường xe máy Việt


Nhu cầu phương tiện cơ động, hợp túi tiền của 90 triệu người dân đã giúp nhiều thương hiệu xe máy nước ngoài thu về hàng tỷ USD sau nhiều năm có mặt tại Việt Nam.

Người nước ngoài thường ấn tượng về Việt Nam bởi xe máy và trên thực tế với dân số 90 triệu người, cả nước hiện có khoảng 45 triệu xe máy. Theo số liệu của PewSearch Center, Việt Nam đứng thứ 2 thế giới về tỷ lệ hộ gia đình sở hữu xe máy với 86%, chỉ thua 1% so với nước dẫn đầu là Thái Lan. Một số thống kê khác cũng cho thấy nếu tính tỷ lệ người dân sở hữu xe, Việt Nam cũng xếp ở vị trí tương tự, sau Đài Loan (Trung Quốc).


Số liệu của PewSearch Center cho thấy Việt Nam là nước có tỷ lệ hộ gia đình sở hữu xe máy cao thứ 2 thế giới, sau Thái Lan.


Chính sự phổ biến và nhu cầu này đã giúp các hãng sản xuất xe máy, đặc biệt là xe Nhật, ăn nên làm ra và hình thành những "đế chế" trên thị trường. Dẫu vậy, dù hoạt động tại Việt Nam từ hàng chục năm qua, những con số cụ thể về quy mô và lợi nhuận của những ông lớn này mới được hé lộ gần đây, thông qua báo cáo của các cổ đông góp vốn.

97% thị phần xe máy Việt thuộc về 5 đại gia (Honda, Piaggio, SYM, Suzuki và Yamaha) thì riêng Honda giữ tới 70%. Có mặt từ những năm 1996, đến nay, Honda đã cung cấp ra thị trường 20 triệu xe máy (cùng với 44.000 ôtô). Đây là liên doanh giữa 3 công ty: Honda Motor Nhật Bản (góp 42%), Tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam (VEAM, 30%) và Asian Honda Motor (28%).

Với 3 nhà máy (tổng vốn đầu tư 475 triệu USD), Honda có thể cho xuất xưởng 2,5 triệu xe máy mỗi năm và trong năm 2014, doanh nghiệp này tiêu thụ được 1,91 triệu xe. Honda Việt Nam ghi nhận doanh thu 55.000 tỷ đồng trong năm này (xe máy chiếm 95%) và là một trong 3 doanh nghiệp FDI có doanh thu lớn nhất Việt Nam (sau Samsung và Vietsovpetro). Con số này tương đương hơn 2 tỷ USD và đã đóng góp đáng kể vào doanh thu 16 tỷ USD từ xe máy của công ty mẹ tại Nhật Bản.

Tuy vậy từ nhiều năm qua, lợi nhuận và một số số liệu tài chính khác của Honda Việt Nam thường ít được công bố và chỉ được hé lộ phần nào trong báo cáo gần đây của VEAM - một trong 3 cổ đông chính. Cụ thể, VEAM từng góp 252 tỷ đồng, tương ứng 30% vốn vào Honda từ khi mới thành lập, song đến nay, giá trị khoản đầu tư này đã tăng lên 7.142 tỷ đồng. 

Như vậy, Honda Việt Nam được định giá khoảng 22.140 tỷ đồng. Tuy nhiên, con số xấp xỉ một tỷ USD này chỉ là trên sổ sách, còn trên thực tế, với thương hiệu và thị phần nắm giữ, giá trị của Honda Việt Nam có thể gấp nhiều lần.

Ngoài ra, báo cáo cũng cho thấy VEAM đã thu về gần 3.500 tỷ đồng lãi từ các công ty liên kết, trong đó giá trị của khoản đầu tư tại Honda tăng thêm 1.982 tỷ đồng. Theo tính toán, lợi nhuận của Honda trong năm đó cũng đạt hơn 6.600 tỷ đồng.



Các doanh nghiệp FDI có doanh thu và lợi nhuận lớn dựa trên nhu cầu xe máy của người Việt.


Một đại gia khác cũng được hé lộ số liệu kinh doanh thời gian gần đây là Yamaha, khi cổ đông lớn là Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam công bố cổ phần hoá.

Cụ thể năm 2012, doanh thu của Yamaha Việt Nam đạt 23.538 tỷ đồng (tương đương hơn một tỷ USD), năm 2013 giảm xuống 21.097 tỷ, lợi nhuận sau thuế lần lượt đạt 695 và 647 tỷ đồng. Năm 2014, doanh số bán xe của Yamaha sụt giảm hai con số khiến doanh thu của đơn vị giảm xuống 18.545 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế 647 tỷ. 

Doanh thu của Yamaha có xu hướng giảm do thị trường xe có dấu hiệu chững lại. Dù vậy, họ vẫn giữ thị phần lớn thứ 2 trên thị trường xe máy (23,4% năm 2014) và thuộc nhóm các doanh nghiệp FDI có doanh thu lớn nhất Việt Nam. Tỷ lệ trả cổ tức của doanh nghiệp cũng luôn ở mức cao: gần 80% năm 2012-2013, năm 2014 là 91%.

Có mặt tại Việt muộn hơn các đại gia trên, song Piaggio cũng gây ấn tượng và phát triển nhanh chóng nhờ các dòng xe thời trang, phù hợp với thị hiếu tăng dùng xe ga của người Việt. Theo thống kê năm 2014 của tỉnh Vĩnh Phúc - nơi hãng xe đặt nhà máy, Piaggio sản xuất được 104.363 xe máy trong đó tiêu thụ trong nước hơn 56.000 xe, còn lại xuất khẩu sang Hàn Quốc, Australia, Mỹ, Ấn Độ, Đài Loan (Trung Quốc) và châu Âu... Tổng doanh thu của đơn vị này đạt 265 triệu USD, đóng 369 tỷ đồng thuế cho Nhà nước.

Theo dự báo của Ngân hàng thế giới, tỷ lệ sở hữu xe máy của người Việt Nam sẽ có xu hướng tăng lên trong vài năm tới. Khi đó, thị trường sẽ đạt mức bão hoà khi mỗi người dân đều có khả năng tài chính mua được một chiếc xe.

Với xu hướng này, thực tế tiêu thụ xe của Việt Nam đã bắt đầu có xu hướng giảm sau khi đạt đỉnh vào năm 2011 với 3,3 triệu xe. Đến năm 2014, lượng tiêu thụ giảm xuống 2,8 triệu chiếc. Tuy vậy, Việt Nam vẫn thuộc nhóm 4 quốc gia tiêu thụ xe máy lớn nhất thế giới cùng Trung Quốc. Đây vẫn là mảnh đất màu mỡ của các đại gia ngoại trước khi thị trường mở cửa với ôtô. 

Bên cạnh đó, Việt Nam còn có thể trở thành công xưởng xe máy của thế giới, khi lượng xuất khẩu xe của Honda, Piaggio… đang tăng mạnh. Trong bối cảnh thị trường xe bão hoà, thu nhập người dân cao lên, các hãng xe cũng đang chuyển mình cho ra những mẫu xe chất lượng, mẫu mã đẹp, phân khúc cao cấp hơn. 

Bạch Dương

            Đọc bài báo này chúng ta sẽ thấy Việt Nam đã mất thị trường xe máy như thế nào và có đúng thị trường là vốn, là tài nguyên không? Và những cơ quan nào? Những ai? Phải chịu chịu trách nhiệm trước việc để mất toàn bộ thị trường xe gắn máy cho nước ngoài?

          Trên đây mới chỉ nói về sản phẩm xe gắn máy còn biết bao nhiêu sản phẩm cơ khí khác nước ta đã bị mất ngay trên sân nhà còn có giá trị lớn không kém như sản xuất lắp ráp Ô tô, máy nông nghiệp, xe đạp… Khi dung vốn công đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, nhiệt điện, thuỷ điện, khai thác tài nguyên khoáng sản, công trình hạ tầng giao thông… đáng ra cơ khí nội địa Việt Nam phải được tham gia với nước ngoài để có thể tich luỹ nhiều mặt từ tài chính, công nghệ, quản lý, nguồn nhân lực kỹ thuật cao…nhưng Việt Nam các nhà quản lý vĩ mô đã lấy nhiều lý do để cơ khí nội địa Việt Nam không thể tham gia nhưng rồi không ai việc gì cả. Với con cháu chúng ta đời sau tôi nghĩ chúng sẽ coi đây là tội lỗi rất lớn của thế hệ đi trước. Hiện tại những hậu quả này vẫn chưa được chữa trị mà còn phát triển theo thời gian.

            Quá đáng trách, đáng buồn! Thôi đành ngâm nga bài thơ mà tôi tâm đắc của anh bạn rượu thân thiết bao năm qua, nhà thơ Trần Ninh Hồ đã tặng để vợi nỗi buồn.

 Bài thơ có tên :       


GỬI CHÀNG THI SĨ XE ÔM

 

Đi nhiều nhất chính là anh

Mà sao vẫn thấy quẩn quanh quá chừng

Khi đi cũng thể khi dừng

Là theo cái đích người dưng thuê mình

 

Khi thì ôm, khi thì thồ

Lại khi nổi hứng với thơ bụi đường

Xe thì ôm những đoạn trường

Thơ thì ôm nỗi tự thương lấy mình.

 

Khi thì ôm, khi thì thồ

Thồ, ôm chi cũng hững hờ như nhau

Khi thì chậm. Khi thì mau

Chậm, mau thì cũng như nhau thôi mà!

 

Một chút men gửi la đà

Một chút thơ để mặn mà gió sương

Gắng mà ôm lấy yêu thương

Gắng mà tránh mọi tai ương dặm dài.

 

Dặm dài mình, dặm dài ai

Dặm dài chi cũng chẳng ngoài dặm xa

Thồ người là để thồ… ta

Người ôm mà lại hóa ra ôm… người!

 

Tạ Văn, Tạ Sỹ, tạ… trời

Cho thành đa tạ, cho người nhớ nhau

“Ai đi đó, Ai về đâu”

Sá chi đôi “cuốc”: bể dâu, phong trần

 

               ( Kon Tum - Vũng Tầu, cuối thu 2005)

 


Thống kê truy cập

Đang Online 15

Lượt truy cập 800989

          Ẩn
Công ty TNHH Tư vấn Công nghiệp Việt Nam
  Là công ty kết nối các doanh nghiệp Cơ khí trong, ngoài nước
Kính mời Quý vị nếu có nhu cầu